Nghệ thuật giao tiếp là một trong những từ khoá được search nhiều nhất trên google về chủ đề nghệ thuật giao tiếp. Trong bài viết này nghethuat.vn sẽ viết bài về Tổng hợp 6 Nghệ thuật giao tiếp trong văn hóa của người Việt.
Table of Contents
Văn hoá giao tiếp là gì?
Tìm ra một định nghĩa minh bạch cho một định nghĩa thuộc lĩnh vực khoa học xã hội& nhân văn quả là rất khó. Ở đây chỉ đủ sức mang ra cái gọi là khái niệm ấy thay bằng quan niệm của mỗi người. văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ liên kết giao tiếp có kiến thức của mỗi người trong không gian (giao tiếp một mẹo lịch sự, thái độ gần gũi, cởi mở, chân tình, thể hiện sự tôn trọng nhau), là tổ hợp của các thành tố: lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, hướng dẫn ứng xử…
Đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Viet Nam
1. Xét về thái độ đối với việc giao tiếp, đủ sức thấy đặc điểm của người VN là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè.
giống như đã nói, người Viet Nam nông nghiệp sống dựa vào lẫn nhau và rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi member trong cộng đồng, chính tính cộng đồng này là nguyên do khiến người Viet Nam đặc biệt coi trọng việc giao tiếp, và cho nên rất like giao tiếp. Việc like giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai đặc điểm:
– Từ góc độ của chủ thể giao tiếp thì người VN có tính like thăm viếng. đang thân nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần chăng nữa, lúc thảnh thơi họ luôn luôn tới thăm nhau. Thăm viếng không còn là nhu cầu công việc (như ở phương Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm gắn kết.
– Với phân khúc giao tiếp thì người VN có tính hiếu khách. Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo khó đến đâu cũng nỗ lực tiếp đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không bằng đói bữa. Tính hiếu khách này càng grow up khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa xôi.
đồng thời với việc thích giao tiếp, người Viet Nam lại có đặc tính gần như trái lại là rất rụt rè – điều mà những người Nhìn nước ngoài rất hay nhắc đến. Sự tồn tại đồng thời của hai tính phương pháp trái ngược nhau (thích giao tiếp và rụt rè) này bắt gốc từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị. Khi đã ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộng đồng ngự trị thì người Viet Nam sẽ tỏ ra xởi lởi, thích giao tiếp. Còn khi ở ngoài cộng đồng, trước những người lạ, ngành tính tự trị phát huy chức năng thì người Việt Nam sẽ tỏ ra rụt rè. Hai tính cách tưởng giống như trái ngược nhau ấy không hề tranh chấp với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường không giống nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện cho hướng dẫn ứng xử linh động của người Viet Nam. xem qua chương trình coaching skill giao tiếp ứng xử:
2. Đặc điểm trọng tình nghĩa ghi dấu trong văn hoá giao tiếp của người Việt
Xét về liên kết giao tiếp, kiến thức nông nghiệp với đặc điểm trọng tình vừa mới dẫn người VN tới chỗ get tình cảm sử dụng quy tắc ứng xử:Yêu nhau yêu cả đường đi/ ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng; Yêu nhau cau sáu bổ ba/ghét nhau cau sáu bổ ra sử dụng mười; Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn/ghét nhau quả bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề/một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…
Nếu nói khái quát, người Viet Nam lấy sự hài hòa âm dương sử dụng trọng nhưng vẫn thiên về âm hơn, thì trong cuộc đời, người Việt Nam sống có lý có tình nhưng luôn luôn thiên về tình hơn: Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình. Người Viet Nam luôn coi trọng tình cảm hơn mọi thứ trên đời. Ai nhớ mình một tí đều phải nhớ ơn, ai bảo ban một chút cũng phải tôn làm thầy – khái niệm “thầy” được xây dựng ra rất rộng: thầy đồ, thầy võ, thầy thuốc, thầy bói, thầy cúng, thầy địa lý, thầy phù thủy…
3. Với đối tượng giao tiếp, người VN đủ sức quen ưa nghiên cứu, Quan sát, đánh giá…
Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, trạng thái gia đình (bố mẹ còn hay mất, vừa mới có vợ/ chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy gái…) là những vấn đề người Viet Nam thường chú ý. Thói quen ưa tìm hiểu này khiến cho người nước ngoài có nhận xét là người Viet Nam hay tò mò. Đặc tính này – dù gọi bằng tên gì đi nữa – chẳng qua cũng chỉ là một món hàng của tính cộng đồng làng xã mà ra.
Do tính cộng đồng, người VN tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà mong muốn quan tâm thì phải biết rõ nơi. Mặt không giống, do lối sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều có những phương pháp xưng hô riêng, nên nếu không có quá đủ thông tin thì k thể lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp được. Biết tính phương pháp, biết người để lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp: chọn mặt gửi vàng; Tùy mặt send lời/tùy người send của. Khi k được lựa chọn thì người Việt Nam sử dụng chiến lược thích nghi một cách linh hoạt: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.
4. Tính cộng đồng trong văn hoá giao tiếp của người Việt
Tính cộng đồng còn khiến người Viet Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự: Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch, rách cho thơm; Trâu chết để da, người đọc chết để tiếng. Danh dự gắn với năng lực giao tiếp: Lời hay nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm; lời dở truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng
Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Viet Nam mắc bệnh sĩ diện: Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi; Đem chuông đi đấm nước người, k kêu cũng đánh ba hồi quét danh; Một quan tiền công không bằng một đồng tiền thưởng. Ở làng quê, thói sỹ diện thể hiện trầm trọng qua tục lệ ngôi thứ ngành đình ttrung và tục chia phần. Do danh dự (sỹ diện), các cụ già luôn luôn đủ nội lực to tiếng nhau vì miếng ăn: Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Lối sống trọng danh dự kéo đến cơ chế tạo tin đồn, tạo nên dư lý luận giống như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã.
5. Về bí quyết giao tiếp, người VN ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận
Tính tế nhị khiến cho người Viet Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không có khi nào xây dựng đầu tực tiếp, đi thẳng vào đề như người phương Tây. Truyền thống VN khi bắt đầu giao tiếp là phải xấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn. Cũng để đưa đẩy tạo không khí là truyền thống miếng trầu là đầu câu chuyện. Với thời gian, tính năng “mở đầu câu chuyện” này của “miếng trầu” được thay thế bởi chén trà, điều thuốc lá…
Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tìm hiểu trong các mối liên kết. Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói năng: Ẳn có nhai, nói có nghĩ; Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì thưa thốt, k biết thì dựa cột mà nghe; Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo… Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Viet Nam có yếu điểm là thiếu tính quyết đoán, nhưng đồng thời giữ được sự hòa thuận, không làm mất lòng ai.
Người Viet Nam rất hay cười, nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; người ta đủ nội lực gặp nụ cười VN vào cả lúc ít mong đợi nhất. Tâm lý ưa hòa thuận khiến người VN luôn chủ trương nhường nhịn: Một sự nhịn là chín sự lành; Chồng giận thilf vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê… xem qua thêm bài viết: làm thế nào để giao tiếp tốt hơn?
6. Người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú
đầu tiên, đó là sự phong phú của hệ thống xưng hô: trong khi các ngôn ngữ phương Tây và Trung Hoa chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng thì tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô, và những danh từ thân tộc này có thiên hướng lấn át các đại từ nhân xưng. hệ thống xưng hô này có các đặc điểm:
– Thứ nhất, có tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng giống như bà con họ hàng trong một gia đình.
– Thứ hai, có tính chất cộng đồng hóa cao – trong nền móng này k có những từ xưng hô chung mà lệ thuộc vào tuổi tác, địa vị không gian, thời gian, cánh cửa giao tiếp cụ thể: chú khi ni, mi khi khác. Cùng là hai người, cách xưng hô có kkhi thể hiện được hai gắn kết khác nhau: chú-con, ông-con, bác-em, anh-tôi… Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư…)
– Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kỹ kưỡng: người Viet Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính). Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai cùng xưng là em và cùng gọi nhau là chị. Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: xưa kia chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con cần nhất là k được trùng tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng giống như ngoài xã hội. Vì thế mà người Viet Nam trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai phải hỏi tên chủ nhà để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói chệch đi).
Nghi thức trong mẹo nói lịch sự cũng rất phong phú. Do truyền thống tình cảm và linh động nên người Việt Nam không có một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp giống như phương Tây. Với mỗi trường hợp đủ sức có một hướng dẫn cám ơn, xin lỗi không giống nhau: Con xin chú (cảm ơn khi nhận quà), Chị chu đáo quá(cảm ơn khi được quan tâm), Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được đon tiếp), Quý hóa quá (cảm ơn khi khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được khen),Cháu được như hôm nay là nhờ cô đấy (cảm ơn khi được giúp đỡ)…
kiến thức nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến cánh cửa nên người Viet Nam phân biệt kỹ các lời chào theo liên kết thế giới và theo sắc thái tình cảm. Trong khi đó văn hóa phương Tây ưa hoạt động lại phân biệt kỹ các lời chào theo thời gian như chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối…
giáo dục văn hoá giao tiếp trong học đường
giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường không nên chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường (tất nhiên nhà trường chịu trách nhiệm chính) mà còn phải xây dựng rộng phạm vi từ gia đình đến không gian. Ngay từ nhỏ, gia đình vừa mới có vai trò rất lớn trong việc tạo dựng văn hóa giao tiếp cho con cháu. Ông, bà, cha mẹ là những thầy cô giáo trước tiên tut cách giao tiếp có văn hóa cho con, cháu (đi chào, về hỏi, gọi dạ, bảo vâng một mẹo có lễ phép).
Bài học vào đời ấy sẽ được liên tục củng cố và phát triển thêm với những content phong phú, mức độ cao hơn ở các bậc học tiếp theo. Phải thấy rằng dạy bảo văn hóa giao tiếp là chẳng hề hạn chế bởi cấp học nào, bởi thời gian, cánh cửa nào mà cần phải được tiến hành ở all các bậc học, ở mọi lúc, mọi nơi, phải tiến hành một cách đồng bộ, nhất quán, tiến hành có nội dung, có plan, có phương thức và thật kiên trì thì mới có hiệu quả.
Nếu thiếu nhất quán sẽ xảy ra tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” thì sẽ phản chức năng. không thiếu trường hợp ở nhà, ở trường thì “con ngoan, trò giỏi”, ra ngoài xã hội lại vi phạm đạo đức, luật pháp. Phải chăng đó một phần là do trạng thái dạy bảo không đồng bộ, nhất quán, thiếu sự giám sát chặt chẽ. thành ra sự liên kết, kết hợp trong giáo dục là rất quan trọng.
Bình luận về chủ đề post